Vắng Như Chùa Bà Đanh
Chùa Bà Đanh là tên gọi Nôm của
chùa Châu Lâm. Chùa này được cất lên cùng với viện Châu Lâm vào thời vua Lê
Thánh Tông (1460-1497) ở làng Thụy Chương, Hà Nộị Vì để tránh húy miếu vua
Thiệu Trị nên sau này Thụy Chương phải đổi thành Thụy Khuệ Vào thời đó, viện
Châu Lâm được dùng làm chỗ ở cho những người Chiêm Thành được đưa về sau các
cuộc chiến tranh, còn chùa Châu Lâm là nơi dành cho họ cúng lễ (vì hầu hết
những người này đều theo đạo Phật).
Sau khi người Pháp chiếm đóng Hà
Nội, họ đã chiếm khu vực đất này để lập trường Trung học bảo hộ (1907) - nay là
trụ sở của trường trung học Chu Văn An, vì thế chùa Châu Lâm phải dời về phía
Tây Nam, ở cuối làng và đổi sang tên mới là chùa Phúc Lâm.
Dấu tích của chùa Phúc Lâm hiện
vẫn còn giữ lại được tấm bia ghi rõ: Bà Đanh tự (chùa Bà Đanh). Theo tục
truyền, Bà Đanh là một người đàn bà đã có công dựng lên chùa này, vì thế mà
ngôi chùa mang tên bà. Từ khi viện Châu Lâm bị bãi bỏ, số người đến lễ bái chùa
này ngày một ít đị Chính vì thế mà không khí ngôi chùa này ngày càng trở nên
vắng vẻ. Trong bài "Tụng Tây Hồ phú" của Nguyễn Huy Lượng có ghi lại
cảnh vắng của chùa này:
Dấu bố cái rêu in nền
phủ
Cảnh Bà Đanh hóa khép
cửa chùa
Ba Que Xỏ Lá
Trong thời Pháp thuộc, có một bọn
người chuyên tổ chức những "trò chơi có thưởng". Trò chơi của bọn họ
gồm một cái que và ba chiếc lá. Mỗi lá có đính một chiếc vòng nhỏ ở cuống.
Người chơi cầm cái que nhỏ xỏ vào ba vòng này. Mỗi người chỉ được xỏ một lần.
Người nào xỏ vào được một lúc cả ba lá và nhấc được chúng lên thì được lĩnh
thưởng. Ai xỏ trật, tức xỏ không vào lá nào hoặc chỉ vào một trong ba lá, sẽ
mất toi số tiền đặt cược[1].
Cũng liên quan tới trò chơi này,
có người kể lại cách thức chơi của bọn chủ trò có khác chút ít. Chúng thường
dùng ba que nhỏ, trong đó chỉ có một que xỏ vào chiếc lá rồi chìa cho mọi người
xem. Chúng tuyên bố rằng nếu ai rút trúng que có chiếc lá khi chúng nắm tay lại
thì người đó trúng thưởng. Ngược lại, người chơi sẽ mất số tiền đặt cược [1]
trước. Dù chơi theo cách thức nào đi nữa, thì bọn chủ trò vẫn có nhiều mưu mẹo,
khiến cho người chơi bao giờ cũng thua cuộc. Vì thế, người ta mới gọi bọn chủ
trò là bọn "ba que xỏ lá" với hàm ý là bọn bịp bợm, lừa đảo, dối trá.
Từ cách thức chơi thứ nhất, nhiều người cho rằng hình thức ban đầu của "ba
que xỏ lá" là "xỏ lá ba que"[2].
Sở dĩ có sự thay đổi này là do
việc đọc chệch cho thuận miệng, dễ đọc, dễ nhớ.
Thành ngữ "ba que xỏ
lá" dần dần được mở rộng phạm vi xử dụng. Nó được dùng để chỉ tất cả những
hạng người lừa lọc, bịp bợm, đểu cáng.
Trong quá trình xử dụng, thành
ngữ "ba que xỏ lá", được tách thành hai vế "ba que",
"xỏ lá". Các bộ phận được tách ra này đã gia nhập vào vốn từ vựng
tiếng Việt. Về ý nghĩa, các từ "ba que", "xỏ lá" được dùng
tương tự như thành ngữ "ba que xỏ lá". So sánh:
- bọn ba que
- bọn xỏ lá
- bọn ba que xỏ lá
Đèo heo hút gió
Nếu chỉ xem xét ý nghĩa chung, ý
nghĩa tổng thể thì thành ngữ đèo heo hút gió là một thành ngữ đơn giản, dễ
hiểu. Trước hết, người Việt thường dùng thành ngữ này để chỉ nơi rừng núi hoang
vu, thiếu vắng người qua lại.
“Cái Xuân gặp anh bộ đội nào đó ở
chốn đèo heo hút gió này là một điều mừng, hãy để cho họ tận hưởng niềm vui
nghiêm chỉnh ấy nên thôi không úm nữa”. (Xuân Thiều. “Trời xanh”).
Trong tiếng Việt, thành ngữ đèo
heo hút gió còn biểu hiện ý nghĩa “xa xôi, cách trở của những vùng, miền, của
những đường đi lối lại nói chung”. Thí dụ: “Hiện nay bát hoa men đã tới quê tôi
nhưng một số nơi quá đèo heo hút gió hãy còn dùng bát vỡ, móng tre” (Văn nghệ
9-1960). “Trước kia tôi hoàn toàn không biết rằng đi trên những thiên lý đường
đi, dù đường đèo heo hút gió xa lắc mấy trùng cũng không ai bỏ đường ra đấy cho
thiên cho địa” (Xuân Diệu. “Đi trên đường lớn”). Dù hiểu với ý nghĩa nào thì
thành ngữ đèo heo hút gió đều được nói về sự xa vắng, cách trở, gây cảm giác
hoang sơ, buồn lặng và cô đơn. Tuy nhiên, muốn hiều rõ từng từ từng chữ trong
thành ngữ thì lại không đơn giản. Cho đến nay, cách nghĩ các chữ heo, hút trong
đèo heo hút gió chưa thống nhất. Phần lớn mọi người đều nhận thức heo, hút là
hai yếu tố của một từ phức heo hút với nghĩa “ở vào nơi vắng và khuất, gây cảm
giác buồn và cô đơn”. Theo đó, thành ngữ đèo heo hút gió là kết quả của sự giao
kết ba từ đèo-heo hút-gió. Ưu thế của cách hiểu này là giải thích rõ được hết
mọi từ trong thành ngữ. Nhưng, ở đây cũng bộc lộ những bất hợp lý, khó có thể
biện minh được. Trước hết trong tiếng Việt, heo hút không có khả năng kết hợp
với gió. Heo hút thường đi sau các danh từ chỉ vị trí, địa danh chứ không thể
đứng trước hoặc sau các danh từ chỉ hiện tượng thiên nhiên như mưa, gió, sấm,
chớp,... để bổ nghĩa về tính chất “xa vắng cách trở, cô đơn”. Hơn nữa, nếu xem
heo hút là một từ như cách hiểu này, người ta không giải thích được dạng thức
hút gió đèo heo vốn là một biến thể của thành ngữ đèo heo hút gió. Thí dụ: “Họ
tống đến nơi quân dịch đang gào, nơi hút gió đèo heo” (Trinh Đường. “Hoa gạo”).
Từ những bất hợp lý trên, chúng
ta phải nghĩ đến hướng tìm tòi khác để giải thích các chữ heo, hút cho hợp lý.
Điều cần được chú ý trước nhất là phải dựa vào luật đối và điệp, vốn rất phổ
biến trong cách cấu tạo thành ngữ tiếng Việt. Theo hướng này, đèo heo hút gió
được xem xét trên cơ sở đối ý đối lời. Ở thành ngữ này có sự đối ý giữa đèo heo
và hút gió và đối lời giữa đèo và hút, giữa heo và gió. Ở cặp đối heo và gió,
chúng ta dễ nhận ra heo và gió cùng nghĩa. Ta có thể nhận thấy heo có nghĩa như
gió trong heo may, trời hanh heo. Heo chính là gió lạnh mùa thu – đông, một thứ
gió hanh khô, gây cho da nứt nẻ. Ở cặp đèo và hút thì chỉ có từ hút là phải làm
rõ nghĩa. Như đều biết, trong tiếng Việt vốn có từ hút với nghĩa động từ chỉ
“hoạt động cuốn theo luồng, theo dòng, làm cho nước và khí, gió xoay tròn”.
Động từ hút được chuyển thành danh từ chỉ luồng nơi tập trung dòng chảy, luồng
xoáy như hút nước, hút gió. Chữ hút trong thành ngữ đèo heo hút gió là từ hút
danh từ này. Vậy là, nhờ có những cứ liệu trên, chúng ta đều thấy rõ thành ngữ
đèo heo hút gió hoàn toàn tuân thủ theo luật đối điệp và tương hợp về từ loại
cũng như về ý nghĩa. Đây là dạng thức thường gặp trong cấu trúc thành ngữ tiếng
Việt, lệ như chân lấm tay bùn, lòng chim dạ cá, lòng son dạ sắt. Điều đó càng
được khẳng định chắc chắn hơn khi nhận thấy một biến thể khác của thành ngữ đèo
heo hút gió là đèo mây hút gió hoàn toàn hiện rõ nguyên hình là một thành ngữ
đối và điệp. Ví dụ: “Có người bị giặc truy bức đành bỏ quê hương, lạc loài đến
vùng đèo mây hút gió để kiếm sống như nghệ sỹ Ngọc Cần ở Plâyku” (Văn học nghệ
thuật 11-1976).